Ống DN200 thì gắn đồng hồ lưu lượng cỡ nào

Ống DN200 thì gắn đồng hồ lưu lượng cỡ nào

Câu này bên em nghe nhiều nhất khi lắp thiết bị đo cho trạm xử lý. Và câu trả lời thường làm người hỏi hơi bất ngờ: đa số trường hợp không phải DN200.

Ống chọn theo trở lực, theo chiều dài tuyến, theo cái gì có sẵn ngoài thị trường. Đồng hồ thì chọn theo tốc độ dòng chảy qua nó. Hai bài toán khác nhau. Gộp làm một là lỗi tốn tiền nhất trong hạng mục đo lường của một trạm.

Quy đổi

Hồ sơ ghi công suất theo mét khối một ngày đêm. Đồng hồ thì làm việc theo mét khối một giờ.

Công thức: lấy công suất chia cho số giờ vận hành thực tế trong ngày.

Chia cho 24 chỉ đúng khi trạm chạy liên tục. Trạm bơm theo mẻ hoặc bơm theo mực nước hố thu thì lưu lượng tức thời cao hơn hẳn con số chia đều. Lấy con số chia đều mà chọn thì đồng hồ bị nhỏ, chạy vượt dải, mau hỏng.

Bảng tra

Bảng dưới tính cho trạm chạy liên tục 24 giờ. Cột cuối là cột quan trọng nhất, bên em giải thích ngay sau bảng.

Công suất trạm
m³/ngày đêm
Lưu lượng
m³/h
Cỡ nên chọn Tốc độ khi đủ tải
m/s
Tốc độ khi chạy 40 % tải
m/s
Nếu chọn lớn hơn hai cấp,
tốc độ lúc 40 % tải
80 3,3 DN25 1,9 0,75 DN40 — 0,29
150 6,2 DN40 1,4 0,55 DN65 — 0,21
250 10,4 DN50 1,5 0,59 DN80 — 0,23
400 16,7 DN65 1,4 0,56 DN100 — 0,24
600 25,0 DN80 1,4 0,55 DN125 — 0,23
1.000 41,7 DN100 1,5 0,59 DN150 — 0,26
1.400 58,3 DN125 1,3 0,53 DN200 — 0,21
2.000 83,3 DN125 1,9 0,75 DN200 — 0,29

Trạm không chạy 24 giờ thì tính lại lưu lượng theo số giờ thực tế rồi dò vào cột thứ hai. Phần còn lại của bảng vẫn dùng được.

Chọn dư

Đồng hồ điện từ công bố sai số theo dải tốc độ, không phải một con số duy nhất. Dòng bên em hay dùng thì sai số 0,5 phần trăm giá trị đọc chỉ đúng khi tốc độ nằm trong khoảng 0,3 đến 10 mét một giây. Xuống dưới 0,3 thì sai số nới thành 1 phần trăm.

Giờ nhìn lại cột cuối bảng. Chọn dư hai cấp, lúc trạm đủ tải thì vẫn ổn.

Nhưng trạm xử lý nước ít khi chạy đủ tải ngay. Giai đoạn đầu thường chỉ 40 đến 60 phần trăm công suất thiết kế, có nơi kéo dài vài năm. Ở mức 40 phần trăm, mọi dòng trong bảng đều tụt xuống dưới 0,3 mét một giây.

Tức là suốt giai đoạn đầu, đúng lúc chủ đầu tư cần số liệu nhất để chứng minh trạm vận hành đạt, thì đồng hồ đang làm việc ở vùng sai số kém. Và không có gì báo cho ai biết. Thiết bị vẫn chạy, vẫn hiện số, vẫn xuất báo cáo bình thường.

Nên bên em chọn cỡ theo lưu lượng giai đoạn đầu, không theo công suất thiết kế cuối cùng. Thà lắp thêm một cỡ lớn hơn khi trạm nâng tải, còn hơn đo sai suốt hai năm. Phần đối chiếu dải lưu lượng theo từng cỡ danh nghĩa có trong tài liệu về đồng hồ đo lưu lượng điện từ Kometer.

Lắp đặt

Chọn đúng cỡ mà lắp sai chỗ thì số đọc vẫn sai. Hai điều kiện không được bỏ qua.

Thứ nhất, ống phải luôn đầy nước. Lắp trên đoạn có thể chảy vơi, ví dụ nhánh xả tự chảy, là đo gió chứ không đo nước.

Thứ hai, phải có đoạn ống thẳng tối thiểu năm lần đường kính phía trước và ba lần phía sau. Lắp ngay sau một co, một van hay một tê là nguyên nhân phổ biến nhất khiến số liệu lệch trong khi thiết bị hoàn toàn bình thường.

Hai điều kiện này rẻ nếu tính từ khâu thiết kế đường ống. Đắt nếu phát hiện sau khi đã lắp xong.

Ghi chú

Đồng hồ lưu lượng dùng cho các trạm bên em lắp đặt thuộc dòng Kometer, được cung cấp bởi Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ DLK.

Các giá trị tốc độ trong bảng là kết quả tính từ tiết diện ống và lưu lượng, dùng để minh hoạ cách chọn cỡ. Với từng trạm cụ thể, cần đối chiếu lại catalogue của model được chọn.


Thông tin liên hệ: CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VÀ MÔI TRƯỜNG ĐỨC TÀI
Trụ sở chính: Số 32/20 Phạm Huy Thông, Phường 7, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Hotline: 0935 665 288